Họ đi “ngậm ngải tìm trầm”

Vì cuộc mưu sinh và hi vọng đổi đời, nhiều năm qua hàng trăm phu trầm đã bỏ mạng nơi rừng thẳm, nhiều người chết mất xác trong những cánh rừng nhiệt đới của Lào, Thái Lan, Myanmar, Malaysia… hay ngồi tù trong các trại giam xứ người.

Kỳ 1: Vừa thoát chết, vẫn quay lại rừng

Phóng viên Tuổi Trẻ đã lần theo những “thân phận đời trầm” để thực hiện hồ sơ này.

ho-di-ngam-ngai-tim-tram-1Săn trầm trong rừng sâu

Có thể giờ này năm thợ trầm quê ở Quảng Trạch (Quảng Bình) là Đinh Xuân Thân, Trần Văn Trị, Nguyễn Văn Thắng, Nguyễn Văn Sáu, Trương Thanh Hiền – những người vừa bị giết dã man vào ngày 23-3 vừa qua – đã không… chết.

Có thể họ vẫn còn lang thang tìm trầm đâu đó trong những cánh rừng biên giới, nếu như một ngày trước đó những kẻ thủ ác Hồ Văn Công, Hồ Văn Thành, Hồ Văn Nguyên (La Khon) đã không để sổng ba “con mồi” là Hoàng Lê Dũng, Nguyễn Thanh Liêm,Trần Minh Tuấn ở thôn Minh Lệ, xã Quảng Minh, huyện Quảng Trạch (Quảng Bình).

Những thợ trầm “cao số”

Chúng tôi tìm về thôn Minh Lệ (Quảng Bình) tìm gặp những thợ trầm may mắn đã từng bị chính nhóm Công – Thành – Nguyên bắt giữ đúng một ngày trước khi chúng ra tay sát hại nhóm năm thợ trầm vào hôm sau.

ho-di-ngam-ngai-tim-tram-2Ba thợ trầm Hoàng Lê Dũng, Nguyễn Thanh Liêm, Trần Minh Tuấn lại đóng hàng chuẩn bị chuyến đi tìm trầm mới

Con đường vào làng rất vắng, cứ nghĩ sẽ khó gặp đủ cả ba thợ trầm rất “cao số” đã thoát khỏi tay những kẻ thủ ác kia, nhưng thật bất ngờ, tại nhà Nguyễn Thanh Liêm chúng tôi gặp được đầy đủ cả ba anh em Liêm – Dũng – Tuấn.

Càng ngạc nhiên hơn nữa khi dư âm vụ sát hại dã man năm “đồng nghiệp” của mình vẫn còn rúng động làng quê thì cả ba người đều đang “đóng gùi” để chuẩn bị cho chuyến trở lên rừng vào ngày mai. Căn nhà gạch bé nhỏ của Liêm chất ngổn ngang gạo, dầu ăn, mì gói, bột ngọt, cá khô, mỡ heo…

Đó là số lương thực thực phẩm họ sẽ phải gùi theo trong những chuyến săn trầm dài ngày. Trong số ba anh em, Liêm là thợ trầm thâm niên nhất, anh sinh năm 1969, còn Dũng sinh năm 1983 và Tuấn sinh năm 1985, cả ba đều đã có gia đình vợ con.

Nhìn cả ba đang chăm chú đóng hàng, chúng tôi không dám hình dung rằng vào buổi sáng định mệnh ngày 22-3, nghĩa là chỉ hai tuần trước đây thôi, nếu “kịch bản” của nhóm thủ ác diễn ra đúng như chúng tính toán, thì giờ đây chính ngay chỗ anh đang đứng kia sẽ là nơi đặt chiếc bàn thờ như chúng tôi đã gặp ở gia đình năm phu trầm xấu số nọ.

ho-di-ngam-ngai-tim-tram-3Hố chôn năm phu trầm tại nơi bọn thủ ác ra tay gần biên giới Việt – Lào

Buông vội chiếc bao đang đóng hàng – loại bao gai đựng thức ăn hỗn hợp cho cá ấy sẽ chứa đủ khẩu phần ăn cho cả nhóm đi trong một tháng, cả ba thợ trầm ngồi bệt xuống nền nhà tiếp chúng tôi.

Câu chuyện may mắn thoát khỏi bàn tay nhóm trấn cướp dường như chưa đủ để các anh từ bỏ cái “nghiệp trầm”, dù nó đã bao lần khiến họ suýt bỏ mạng nơi núi rừng xanh thâm u. Và ngay bây giờ chính các anh cũng không ngờ mình còn có thể trở về với gia đình vợ con…

Thoát chết trong gang tấc

Nhớ lại giây phút kinh hoàng ấy, anh Nguyễn Thanh Liêm rùng mình. Chưa bao giờ giữa rừng xanh anh lại có cảm giác sợ hãi đến thế bởi hành vi của nhóm người này khác hẳn lời kể của những người đi rừng trước đó về những nhóm bắt cóc đòi tiền chuộc.

Cả nhóm tìm trầm nhìn nhau gần như phó mặc cho số phận. “Cả ba người bị chúng bắt về lán lục soát lấy hết điện thoại, lương thực, tiền bạc. Sau đó chúng dẫn qua phía đất Lào định hành quyết…” – anh Liêm kể.

Vượt qua biên giới được khoảng mấy trăm mét, cả nhóm bắt cóc lẫn nạn nhân đều mệt lả nên chúng buộc ba người vào gốc cây, còn chúng ngồi nghỉ, bật điện thoại vừa cướp được lên nghe nhạc. Câu chuyện chúng nói với nhau mở ra một thông tin rằng cả ba con tin sẽ bị giết. Ai nấy đều lạnh gáy. “Không thể chết. Vợ con còn nheo nhóc ở nhà, mình chết đi thì ai nuôi. Phải tìm đường sống” – anh Liêm tự nhủ.

Đúng lúc đó, ba người ngồi quay lưng sát vào nhau, ngón tay trỏ của anh Liêm bấm chặt vào múi dây trói của anh Tuấn. Lần mò một lúc anh Liêm phát hiện đầu dây. Tuy nhiên vì dây trói quá chặt, anh Liêm cố sức dùng ngón tay đẩy đầu dây đến mấy lần vẫn không được.

“Dây này người đi rừng thường dùng để buộc thú lớn như nai, hoẵng, heo rừng. Đã mắc vào rồi thì đừng hòng thoát ra. Có khi vùng vẫy cả ngày, dây trói càng siết chặt vào da thịt tứa máu, huống chi ngón tay của mình” – anh Liêm nói.

“Không có cơ hội khác đâu” – cả ba người thầm thì với nhau. Anh Tuấn phải gồng mình nhích người lên một khoảng, dây trói nhả ra vài centimet. Anh Liêm cố sức đưa ngón tay ấn vào đầu dây. Anh Tuấn rướn mình lên che cho mấy bàn tay phía sau đang thao tác.

Múi dây đầu tiên bật ra cũng là lúc cả nhóm giật mình vì nhóm bắt cóc nghe có động xông tới ngó nghiêng. Chỉ trong tích tắc chưa đầy hai phút, dây trói của anh Dũng đã được anh Liêm mở xong. Anh Dũng quay qua che người vừa mở dây trói cho anh Liêm và anh Tuấn. Múi dây cuối cùng tuột ra cũng là lúc cả ba vùng chạy thục mạng vào giữa những đám cây rừng.

Nhóm bắt cóc cũng giật mình ôm súng đuổi theo. Cả ba nháy nhau chia ra chạy theo ba hướng để khỏi bị bắn trúng. Không ai kịp nói với ai điều gì nhưng cả ba đều nhắm thẳng hướng đường biên giới mà lao tới. “Về được đất mình đã rồi tính”.

Chạy suốt hai giờ giữa rừng, cả ba người mới gặp lại nhau trên đất Việt Nam. Biết vừa thoát ra từ cõi chết, cả ba thất thểu cắt rừng tìm đường về nhà. Trên đường về, nhóm ba người gặp một nhóm tìm trầm bảy người khác. Nhóm bảy người cho cả ba ăn cơm và một ít lương thực để về.

Không ai nghĩ ngay hôm sau, chính nhóm bảy người này lại đụng chính nhóm bắt cóc cũ. Và kịch bản cũng như cũ. Cả năm người trong số đó đã bị hành quyết dã man.”Chỉ có nhờ may mắn chúng tôi mới thoát chết. Giữa rừng già cũng chỉ có may mắn mới cứu được mạng sống con người trước hiểm nguy” – anh Liêm kết luận.

Nhưng đâu phải ai cũng có thể may mắn như thế? Không chỉ bỏ mạng trong những cánh rừng trên biên giới Việt – Lào, nhiều thợ trầm đã theo tiếng gọi “đổi đời” lên đường sang tận Malaysia, Thái Lan, Indonesia, Myanmar… – những cánh rừng nhiệt đới xứ lạ chưa có dấu chân người là một hấp lực mà chỉ “trình độ” của những thợ trầm người Việt mới đủ tài năng để khám phá những “bận trầm” bạc tỉ.

Tuy nhiên những thợ trầm này cũng chỉ là những người làm thuê cho những ông chủ bí mật. Chúng tôi đã về nhiều làng quê với đội ngũ thợ trầm xuất ngoại lên tới hàng trăm người và số thợ trầm bỏ mạng, ngồi tù ở xứ người cũng lên tới con số hàng chục. Chết mất xác, thương tích tàn tật, ngồi tù…, vậy mà dường như với những thợ tìm trầm, mùi hương của trầm kỳ đã là nghiệp dĩ…

Kỳ 2: Phu trầm “xuất ngoại”

Sân bay Tân Sơn Nhất, sáng 29 Tết Quý Tỵ vừa rồi, lẫn trong dòng người hối hả rời khỏi máy bay về nhà cho kịp đón tết, có một người đàn ông nước da hơi xanh vì cớm nắng. Hành lý của anh chỉ là một túi xách nhỏ chứ không lỉnh kỉnh vali.

ho-di-ngam-ngai-tim-tram-4Một mẩu trầm do phu trầm xứ Quảng tìm được

Anh là Nguyễn Văn Oanh, 36 tuổi, ở thôn Hà Lời, xã Sơn Trạch, huyện Bố Trạch (Quảng Bình) – một thợ trầm chính hiệu vừa mãn hạn tù từ.. nhà tù Malaysia trở về! Oanh là một trong số hàng trăm phu trầm Quảng Bình đã xuất ngoại tìm trầm theo các đường dây tìm trầm xuyên quốc gia vẫn âm thầm hoạt động dưới cái vỏ “đi du lịch nước ngoài“.

Biến phu trầm thành… du khách

Một ngày tháng 10-2011, chúng tôi gọi điện cho Xê, một phu trầm có hạng ở xóm Tự Đức (Huế). Đầu dây bên kia trả lời: “Tôi đang ở sân bay Tân Sơn Nhất, đi Malaysia lao động xuất khẩu”. Nhưng khoảng tám tháng sau đã thấy Xê trở về với chiếc xe tay ga xịn cáu cạnh. Tôi hỏi đi lao động xuất khẩu gì mà về nhanh vậy, Xê rỉ tai: “Xuất khẩu cái quái chi, tôi qua Malaysia đi trầm”.

Theo lời kể của Xê, việc xuất ngoại tìm trầm được tổ chức theo một đường dây rất quy mô và quy củ. Đầu nậu từ Malaysia điện sang Sài Gòn đặt hàng, “chân rết” từ Sài Gòn mới lần ra miền Trung để săn phu trầm. Và nơi họ tìm đến là Quảng Bình, Huế và Quảng Nam, nơi vốn nổi tiếng với “phong trào đi trầm” một thuở.

Tại Huế, có một vệ tinh của đường dây này tìm đến Cầu Hai, Tuần, Bình Điền và dĩ nhiên là phải đến xóm thợ trầm Tự Đức. Thông qua một đầu mối là trong vài ngày họ trưng tập đủ một đội. Theo ngày giờ hẹn sẵn, các đội thợ từ các nơi tụ tập về Sài Gòn.

Tại đây, thợ trầm sẽ được hóa thân thành du khách, được tập huấn cách sử dụng hộ chiếu, cách vượt qua kiểm soát của an ninh cửa khẩu khi nhập cảnh, cách “đạp trầm” ở Malaysia cũng như luật làm ăn. Xê kể thợ trầm tập trung về Sài Gòn nhiều lắm, cả hàng trăm người, nhưng chia lẻ ra nhiều nhóm để đi cho khỏi bị lộ.

Qua cửa khẩu, an ninh Malaysia tỏ vẻ nghi ngờ, Xê kể, nhưng rồi họ cho qua hết. Một tay chân của đầu nậu đã đứng sẵn ở cửa sân bay với chiếc xe buýt đưa cả “đoàn du khách” về thẳng khách sạn.

Toàn bộ giấy tờ, tiền bạc, tư trang đều được cai thợ tạm giữ. Tiếp đó, đoàn khách nhanh chóng bị lùa lên một dãy phòng trên tầng chót vót khách sạn, rồi nằm yên trong đó. Cai thợ người Việt nói tiếng Malaysia khá sõi yêu cầu không được tự tiện ra khỏi phòng.

Đến giờ ăn, cả đoàn khách lại bị lùa xuống xe buýt đưa đi. Ăn xong lại đếm người trả về khách sạn. Nằm chờ gần cả tháng vẫn chưa vô rừng được do chưa có tín hiệu. Xê nói cả bọn nằm trong khách sạn mà y như “ở tù”, khi chịu không nổi thì cai thợ xuất hiện phát cho vài đồng ringgit rồi lùa lên xe buýt đi siêu thị. Dạo đủ một vòng, mua vài thứ lặt vặt, chưa kịp ngó xem phố xá Malaysia thì lại bị lùa lên xe về khách sạn.

Khi tín hiệu đường đã thông, cả “đoàn du khách” balô lên đường. Xê kể xe buýt chỉ chạy độ ba giờ là đã thấy rừng rậm núi cao nằm bên đường.“Đoàn du khách” được thả xuống và chỉ trong khoảng hai giờ cắt rừng là đã đến “cội” – nơi hạ trại.

Từ đây, mỗi ngày các thợ trầm tỏa ra tám hướng để tìm trầm, đến chiều tối thì theo dấu cũ mà về lại “cội”. Xê nói rừng Malaysia còn nhiều trầm lắm, chỉ đạp rừng nửa ngày là thấy ngay. Trầm ở đây là trầm dó, tức trầm kết tinh trên cây dó đang còn sống, khác với trầm rụi là cây đã già rụi, phải đào xuống đất mới tìm thấy.

Chỉ cần gặp một cây dó có trầm là có thể trúng ngay vài chục ký. Hàng làm xong đã có người của đường dây mua tại chỗ nhưng với giá rất rẻ. Không muốn bán cũng không sao, nhưng chỉ cần cảnh sát rừng xuất hiện là coi như đi tù. Bỏ chạy là bị bắn chết ngay. Vì vậy, hầu hết thợ trầm đều bán hàng tại chỗ.“Với cái giá đó, nậu nó lời vô kể anh ơi”, Xê nói. Biết vậy nhưng có phu trầm nào, ngay cả người liều nhất, lại muốn bỏ xác ở cái nơi rừng rú xa lạ này.

ho-di-ngam-ngai-tim-tram-5Ông Phạm Hậu (làng Trúc Ly, Võ Ninh) sau những năm ‘du lịch tìm trầm’ nay chỉ ở nhà theo nghề ‘xoi’ trầm dó làm cảnh

Vậy mà Xê đã đánh liều, sau khi bán gần hết hàng cho nậu, Xê để dành mấy ký hàng ngon nhất, gói kỹ trong balô. Xê viện cớ con nhỏ bệnh nặng để xin nậu cho về thăm nhà. Và Xê đã ôm chiếc balô ấy qua trót lọt cả hai cửa khẩu, về đến Sài Gòn bán được hơn hai trăm triệu.“Tôi là thằng đạp trầm có tiếng gan lì, rứa mà cũng sợ, vì bên đó bỏ mạng dễ quá. Cảnh sát bắn cũng được, bọn trấn lột lấy hàng rồi còn bắn, mấy đứa Quảng Bình chết nhiều lắm. Lỡ chết thì mần răng đưa xác về cho vợ con?”, Xê mím môi với vẻ mặt vẫn chưa hết hoảng sợ. Dù sao Xê cũng may mắn hơn nhiều bạn thợ khác, ví như Oanh, “tù nhân” bất đắc dĩ mà chúng tôi vừa nhắc ở đầu câu chuyện.

Tù và tội

Chúng tôi tìm về gặp anh Nguyễn Văn Oanh, khi anh đang loay hoay sửa lại chiếc máy cày cho gia đình để chuẩn bị vụ lúa mới. Nếu không có một người bạn giới thiệu thì không ai nghĩ anh Oanh vừa mới mãn hạn tù tại Malaysia trở về. “Đúng 29 tết vừa rồi tôi được về đến sân bay Tân Sơn Nhất. Phải gọi là mừng như sống lại” – anh Oanh run run.

Anh Oanh kể tháng 9-2012, được một lái trầm thuê qua Malaysia “ăn trầm” với tấm hộ chiếu du lịch nhưng thực chất là đi làm thuê cho lái. Cùng đi trong nhóm anh có hàng chục người như thế. Ban đầu qua, cả nhóm hơn chục người được nhét vào ở chung một ngôi nhà ngay rìa rừng.

Trong nhà đã có sẵn khoảng 50 người khác. Thức ăn được lái mua sẵn. Nhưng phải ăn đua với nhau, nếu không là hết cơm. Ngủ thì đông quá, nhà chật, có khi phải ngủ ngồi. Sau vài ngày, lái cho xe đến chở từng nhóm một tung vào rừng. Mỗi người mỗi cuốc, dao tự xăm rừng tìm trầm, khi có hàng tự gùi về.

Trầm ở Malaysia không như trầm Việt Nam mà chất lượng thấp hơn nên giá bán theo đó cũng rẻ hơn. Mỗi ký trầm thường được bán ở rừng giá gần 1 triệu đồng. Lái sẽ mua lại của phu trầm và đưa đi tiêu thụ. Phu trầm chỉ có việc đi tìm giữa rừng và đưa về bán cho lái. Nếu bị bắt thì tự chịu, bị bắn cũng tự chịu. Lái bỏ mặc. Có chăng chỉ là phu trầm tự giúp nhau.

Với những phu trầm mới đi, thường bị lái ép do không biết đường. Mỗi ký trầm khi gùi ra bị lái ép bán với giá có khi chỉ 200.000 đồng. Phu trầm không biết bán cho ai ngoài lái vì lạ nước lạ cái nên đành chấp nhận. Những ngày bị cầm tù, lái cũng không một lời hỏi thăm hay động viên.

Hơn một tháng sau khi đặt chân lên đất Malaysia, trong lúc đang chuẩn bị đồ đạc vào rừng tìm trầm thì anh Oanh bị cảnh sát ập vào bắt giữ. Anh bị 5 tháng tù nước sở tại. Ở chung nhà tù với anh có rất đông người từ tất cả các nước trong khu vực, trong đó người Việt cũng hơn chục người. Khi nghe anh báo về sắp mãn hạn tù, mẹ anh từ quê mới vay mượn gửi qua 500 đôla cho con có tiền mua vé máy bay và làm thủ tục về nhà.

Tuy nhiên được ở tù và còn sống trở về như anh Oanh là điều may mắn.

Kỳ 3: Bỏ mạng xứ người

Click vào đây để nghe audio bài viết, khỏi phải đọc mất công mỏi mắt

 

Có lẽ không làng trầm nào có người xuất ngoại mà lại không có người bỏ thây nơi đất khách. Theo số liệu thống kê từ UBND xã Võ Ninh (huyện Quảng Ninh, Quảng Bình), chỉ trong hai năm trở lại đây đã có 16 phu trầm của làng Trúc Ly bỏ mạng khi đi tìm trầm ở nước ngoài. Chủ yếu trong số đó bị chết ở Thái Lan.

ho-di-ngam-ngai-tim-tram-6Bé Hồng, con gái đầu lòng của anh Quốc, thắp hương cho người cha xấu số. Anh bị bắn chết khi đi tìm trầm trong rừng Thái Lan

Cả làng có hộ chiếu “du lịch”

Làng thuần nông, nhưng Trúc Ly có điều độc đáo: gần 90% số hộ trong làng có hộ chiếu đi… du lịch nước ngoài, thậm chí nhiều hộ có người đi du lịch nước ngoài quanh năm. Cầm hộ chiếu du lịch đi nước ngoài với người khác là niềm hứng khởi của sự khám phá, nhưng với đàn ông và thanh niên Trúc Ly lại phải đối mặt với những cái chết bất thường và những năm tháng bị cầm tù.

Ông Phạm Hậu, một người dân Trúc Ly, kể chuyện đi “du lịch” đầy đắng đót: “Làm hộ chiếu đi nước ngoài là chui vô rừng các nước tìm trầm, mưu sinh là chính chứ du lịch du liệc chi chú ơi. Có rứa mới nguy hiểm, mới bị chết, bị cầm tù”. Ông Hậu có thâm niên hơn 30 năm đi tìm trầm. Rừng Việt Nam, Lào, Myanmar, Malaysia, Thái Lan… ông lội cả rồi. Mỗi lần đi tìm trầm ở các nước là mỗi lần đối mặt với chết chóc, còn hiểm nguy hơn cả trong chiến tranh.

Thợ tìm trầm vốn chỉ xuất ngoại bằng cách làm hộ chiếu du lịch qua các nước trong khối ASEAN với thời hạn một tháng. Đã chui vào rừng tìm trầm thì không ai còn quan tâm đến giới hạn quy định nên người nào cũng trở thành “người nhập lậu”, trong khi thời gian tìm trầm với các phu trầm là dài… quanh năm. Khi bị cảnh sát địa phương hay người dân bản địa bắt gặp trong rừng phải cố mà thoát (nếu may mắn thoát được), nếu không sẽ bị bắn chết, đôi khi bị đánh đập đến tàn thân, hên lắm là bị bắt giam. Sau đó “chịu khó” ngồi tù chờ người nhà gửi tiền đóng phạt (thường là vài chục triệu đồng/người) và chờ ngày “được” trục xuất về quê. Người đi tìm trầm ở Trúc Ly không thể đếm hết số lần họ bị trấn lột, đánh đập ở nước ngoài khi… đi du lịch. “Thấy mình trong rừng, thích là họ bắn mình ngay, như bắn con chim con cò trên rừng. Đã chấp nhận đi tìm trầm trong rừng là không nghĩ đến luật pháp nữa. Chỉ có… luật rừng thôi” – ông Hậu nói.

Đi tìm trầm, không có trầm thì buồn. Nhưng nếu tìm được mà không may mắn thì càng… khổ hơn vì sẽ phải đối mặt với bọn cướp giết để chiếm đoạt hàng. Muốn đưa hàng ra khỏi rừng thì chỉ có cách duy nhất là cắt rừng, chui lủi trong rừng mà trốn, đừng cho ai biết. Ông Hậu đã không ít lần bị trấn lột, bị bắt giam khi ở nước ngoài. “Vậy nhưng mỗi chuyến đi về cũng chỉ đưa cho vợ con được hơn chục triệu đồng. Tìm trầm không phải lúc mô cũng có, với nhiều người thường là may ít rủi nhiều” – ông Hậu buồn bã cho biết. Quá ám ảnh với cái chết của người đi trầm trong làng, nay ông Hậu ở nhà làm đồ chế tác từ cây trầm dó cho người khác.

Chủ tịch xã Võ Ninh, ông Lê Thanh Hải, nói với chúng tôi rằng Trúc Ly trước đây vốn làm nghề chài lưới, cuộc sống bấp bênh. Nhưng từ khi theo nghề trầm, cuộc sống nhiều nhà thay đổi hẳn. Có nhà thành “đại gia” trong vùng. “Nhìn thì cũng vui đó, nhưng mà đau lòng không ít.Chấp nhận xuất ngoại tìm trầm là chấp nhận đổi mạng. Người dân Trúc Ly đã đổi mạng không ít để được những cơ ngơi như thế này…” – ông Hải ngậm ngùi!

Đổi mạng vì trầm

Người dân Trúc Ly cho biết từ ngày theo nghiệp làm trầm đến nay, cả làng đã có gần 50 người chết, riêng hai năm qua có 16 người chết ở xứ người. Nhiều kiểu chết: bị bắn, đá lăn nát người, hổ gấu cấu xé, cây đổ… Mới nhất là trong năm 2012, vào đầu năm có hai người, đến tháng 8 lại hai người nữa bị bắn chết ở Thái Lan.

Người chết, toàn bộ số trầm tìm được bằng mồ hôi nước mắt và cả máu cũng bị cướp mất. Sau những cái chết đó là gia cảnh nợ nần, nghèo túng, vợ góa con côi rất đau lòng.

Hai năm qua, con số 16 phu trầm của làng Trúc Ly bỏ mạng khi đi tìm trầm ở nước ngoài quả là một thảm họa, nhưng hình như dân đi trầm trong làng chưa ai thấy vậy mà chùn bước.

Mới một năm trước, anh Bùi Văn Quốc (sinh năm 1976) và anh Nguyễn Văn Triền (sinh năm 1982) theo hội tìm trầm qua Thái Lan. Chưa được bao lâu thì gia đình nhận tin hai anh em bị bắn chết khi đang ở trong lán giữa rừng. Nửa năm sau, một nhóm tìm trầm khác trong làng vừa qua Thái được mấy ngày cũng bị bắn. Hai người trong số đó bỏ mạng. Khi chúng tôi đến, ngôi nhà anh Quốc vừa mới xây xong chỉ còn bóng dáng phụ nữ và trẻ con. Bàn thờ anh vẫn còn mới toanh. Bà Đặng Thị Giỏ, 70 tuổi, mẹ anh Quốc, nói như nghẹn: “Nó đi làm thợ hồ lâu nay không sao. Muốn đổi đời nhanh nên theo chúng bạn đi Thái Lan tìm trầm, mới chuyến đầu thì bị nạn”. Chị Nguyễn Thị Lựu, vợ anh, mới 28 tuổi đã phải góa chồng. Hai đứa con nhỏ cứ bám lấy mẹ làm nũng. Chị kể khi nghe tin chồng bị bắn mà đứng không vững. Nhìn hai đứa con nheo nhóc càng như muốn khuỵu xuống.

Anh Bùi Văn Quân, người được ủy thác đi qua Thái Lan đưa thi thể anh Quốc về, kể khi qua đến nơi thì chính quyền Thái Lan đã làm việc với sứ quán Việt Nam tại đó rồi. “Tui chỉ kịp nhìn anh Quốc trong chốc lát tại bệnh viện, sau đó nhanh chóng làm thủ tục nhận xác đưa về quê an táng”. Khi ra về, phía đại diện nước bạn còn níu anh lại nói: “Về nói dân làng đừng qua đây tìm trầm nữa. Luật Thái Lan rất nghiêm và sẽ trừng trị thẳng tay”. Về, anh kể lại chuyện với những phu trầm, họ chỉ nghe và ậm ừ. Vài ngày sau anh lại thấy nhóm phu trầm xách gùi thẳng hướng Thái Lan mà tiến.

Anh Tình, một phu trầm Thái Lan đã giải nghệ ở Trúc Ly, nói qua Thái Lan tìm trầm là nơi nguy hiểm và dễ mất mạng nhất, bởi ở đây chỉ cần bỏ chạy là người ta sẽ nổ súng ngay. Đó là lý do khiến người Trúc Ly bỏ mạng nhiều.

Chiều xuống, làng Trúc Ly càng buồn hơn. Hàng chục phụ nữ bồng con nhỏ ra đứng ở mép đường trò chuyện với nhau cho bớt cái cô quạnh trong nhà vắng đàn ông. Từ đầu đường, bà Phạm Thị Chuyên (62 tuổi) kéo chiếc xe ba gác đi dọc con đường. Cứ thấy chai lọ nào vứt ra là bà lại cúi xuống lượm. Từ hơn năm nay xe ve chai của bà còn nặng hơn bởi một tay bà phải vật lộn nuôi con, nuôi cháu. Chồng bà, ông Lê Văn Tuấn (68 tuổi) và con rể Phạm Văn Dũng (sinh năm 1986) hiện đang bị cầm tù tại Thái Lan. Ông Tuấn và Dũng bị bắt nửa năm trước khi đang đi trầm. Cùng đi với hai cha con có hai người khác. Và hai người đó bỏ chạy nên đã bị bắn chết ngay tại rừng, hai cha con không chạy nên bị chính quyền Thái Lan bắt tù vì tội phá rừng. Bà Chuyên thở dài:”Nghe người ta nói khi được thả về cũng phải mất mấy chục triệu tiền chi phí. Không biết tui phải bán bao nhiêu ve chai nữa mới đủ tiền đưa chồng con về khi mãn hạn tù…”.

Kỳ 4: Trấn cướp nơi biên ải

Click vào đây để nghe audio bài viết, khỏi phải đọc mất công mỏi mắt

 

Với những người tìm trầm, rừng già biên giới Việt – Lào như là nhà. Rừng mang lại cuộc sống, nhưng cũng tiềm ẩn rất nhiều nỗi sợ hãi đến cho họ.

Người tìm trầm phải tự làm quen với những nỗi sợ này như một lẽ tất nhiên mà không được quyền lựa chọn hay oán trách…

Gặp cướp…

Mới trước tết năm rồi, ngôi nhà của anh Trần Văn Thắng, 29 tuổi, ở Sơn Trạch, Quảng Trạch (Quảng Bình), bỗng xôn xao. Bà con lối xóm ùn ùn kéo đến nhà. Hỏi ra mới biết anh Thắng mới băng rừng về nhà đúng vào lúc nửa đêm sau gần một ngày đối mặt và vượt qua bọn cướp đường trong rừng biên giới Việt – Lào.

Áo quần lấm lem, đôi dép đi rừng sứt quai chỉ còn phần nửa trước được cầm lên tay để đi cho nhanh. Anh Thắng tuy còn trẻ tuổi nhưng theo nghiệp tìm trầm nơi vùng biên giới này hơn chục năm. Nhưng đó là lần đầu tiên anh đối mặt trực diện với bọn cướp.

“Cả hội chia nhau mỗi người đổ ra mỗi nhánh tỏa đi tìm trầm. Tui vừa đổ xuống con dốc thì bị một nhóm bốn tên cầm dao chặn lại bắt “làm luật” rồi mới được qua. Tui nói không có tiền, toán cướp bắt đầu lục lọi đồ đạc trong gùi. Sợ quá, tui thả gùi xuống rồi bỏ chạy thục mạng một mạch ra khỏi rừng”, anh nhớ lại. Theo mô tả của anh Thắng, nhóm cướp này như là người bản địa bởi rất thông thuộc địa hình cũng như ngôn ngữ người Vân Kiều sống ven biên giới.

Chuyện bị trấn cướp đã trở thành chuyện quen với những người đi trầm ở vùng này. Ông Nguyễn Thanh Chiến, một phu trầm lâu năm ở Phúc Trạch, kể cách đây mấy năm ông cùng hội trầm trong vùng gần như quanh năm sống trong rừng biên giới Việt – Lào.

ho-di-ngam-ngai-tim-tram-7Phút nghỉ ngơi trong lán của người đi trầm giữa rừng

Công việc hằng ngày của nhóm là cứ rảo bước dọc núi rừng nghi có trầm và đào bới. Một lần, cả hội phát hiện được một gốc dó bầu lớn liền hú nhau xúm lại đào. Đào suốt hơn một ngày thì phát hiện dấu hiệu của trầm bên trong khối thân mục. Đói, mệt, nhưng ai nấy đều khấp khởi mừng rơn khi từng thớ gỗ chứa trầm được rút ra khỏi đất. Bỗng từ bốn phía, một nhóm người bịt mặt kín mít nhảy xổ ra, hai khẩu súng hai bên gí thẳng vào cả hội buộc giơ tay lên. “Được bao nhiêu trầm là bọn chúng vơ hết. Mấy anh em còn bị chúng lấy sạch tư trang. Cả nhóm chỉ biết nhìn nhau rơi nước mắt. Còn đau hơn cả bị đánh đập”, ông kể.

Ông Chiến nói không còn lạ gì với cảnh trấn cướp như thế, bởi những nhóm tìm trầm khác trong vùng trước đó đã rỉ tai nhau nhiều vụ cướp trong rừng rồi. Vùng rừng này có một số dân bản địa lập thành nhóm đi vào rừng trấn cướp như thế. Dân tìm trầm gặp phải chúng coi như no đòn và trắng tay. Đặc biệt là vùng rừng biên giới giáp Quảng Trị. “Trước đó người trong hội tui đã bị chính nhóm của Hồ Văn Công trấn cướp năm trước. Khi nghe tin Công giết một lúc năm người ai nấy đều rùng mình, bởi may mình chỉ bị trấn…”, ông Chiến kể.

Chuộc thân

Quanh năm sống giữa rừng già, những người đi tìm trầm đã không còn lạ với việc bị bắt. Ngoài bọn bắt cóc theo kiểu “lục lâm” như nhóm Hồ Văn Công, Hồ Văn Thành, Hồ Văn Nguyên thì còn lại chủ yếu người đi trầm bị người của các xã biên giới Lào bắt giữ. Chỉ cần bị phát hiện bước qua khỏi biên giới là bị bắt ngay. Muốn thoát khỏi những cái bẫy kiểu này, người đi trầm phải bỏ tiền chuộc thân. Mỗi lần chuộc thân là coi như cả chuyến đi trầm tay trắng, có khi đổ nợ nần.

Nguyễn Phong ở thôn Tân Sơn, xã Quảng Sơn là một trong những người đã từng phải chuộc thân như thế. Khoảng hai năm trước, anh Phong cùng nhóm thợ rừng trong thôn đạp rừng lên vùng biên giới để tìm trầm. Sau gần cả tháng trời ăn ở giữa rừng già, nhóm anh vẫn tay trắng.

Lương thực mang theo cũng sắp cạn, định bụng đạp rừng thêm một chuyến nữa cầu may thì không may lạc qua bên kia biên giới lúc nào không hay. Một khẩu súng đen ngòm chĩa vào. Nhóm anh đi năm người nhưng chỉ có nhánh của anh cùng anh Nguyễn Hiều lạc lối và bị bắt. Anh Phong kể sau khi bị bắt, anh được đưa về bản ở huyện Sê Pôn. Anh được cho ăn uống và cho điện thoại về gia đình.

Theo yêu cầu của những người bắt, anh phải nộp 1.000 USD tiền chuộc thân mới được thả về. “Cả nhà nghe tin ai cũng hoảng. Mấy năm đi rừng chỉ đủ cơm gạo chứ không dư được đồng nào. Nhưng vì tính mạng của chồng mà vợ tui phải đi vay mượn cho đủ tiền đi chuộc người”, anh Phong kể.

Ông Trịnh Văn Thiệu, ở thôn Sơn Tùng, xã Quảng Tùng, huyện Quảng Trạch, là một người lão luyện có mấy chục năm đi rừng theo nghề tìm trầm. Ông Thiệu từng bị bắt và cũng có lần trong vai người đem tiền đi chuộc người khác. Ông đã hai lần bị bắt khi tìm trầm ở vùng rừng biên giới Việt – Lào.

ho-di-ngam-ngai-tim-tram-8Một phu trầm ở thôn Minh Lệ, xã Quảng Minh (Quảng Bình) đào bới giữa rừng biên giới tìm trầm

Một lần bị bắt ở huyện Sê Pôn, một lần ở Khăm Muộn. Cả hai lần đó ông đều phải kêu người nhà ôm tiền qua chuộc mới được về. Ông được coi là trưởng nhóm đi rừng, nên một lần khác ông phải ôm tiền đi chuộc thành viên của nhóm mình cũng bị bắt như thế. Tính ra mỗi lần bị bắt ít nhất ông cũng bị giữ trên dưới chục ngày mới được về. “Mỗi lần bị bắt coi như một lần đen đủi. Chuộc về rồi lại phải lặn lội lên rừng tìm trầm để trả nợ tiền đi chuộc, có khi chưa trả xong lại bị bắt tiếp. Đời đi trầm đôi khi cứ luẩn quẩn như thế”, ông Thiệu buông lời.

Đùm bọc nhau giữa rừng

Những người tìm trầm lâu năm hay mới vào nghề đều biết một quy luật bất thành văn rằng ở giữa rừng thiêng nước độc, họ phải coi nhau như anh em. Có bát cơm cũng sẻ nửa, điếu thuốc cũng chia năm sẻ bảy. Ai đi mệt đều có thể vào thẳng lán của người nào đó trong rừng ngủ tạm, lấy gạo tự nấu cơm ăn. Anh Nguyễn Thanh Liêm nói rằng chính anh khi gặp “nhóm bảy người tìm trầm xấu số ngày 22-3” trong tình trạng nhóm anh vừa mới bị trấn cướp, nhóm bảy người đã cho nhóm anh ăn cơm, chia sẻ lương thực để cầm hơi. Đêm đó anh Nguyễn Văn Thắng, một trong năm nạn nhân, đã nhường lại cho anh Liêm bộ áo quần đẹp nhất để mặc, nhường võng cho anh Liêm ngủ. Giữa hai nhóm không hề có quan hệ bà con họ hàng gì.

Đã hết 4 kỳ, cảm ơn bạn đã xem tin!!

Viết bình luận: